Một số đặc điểm về cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam



Một số đặc điểm về cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam

Để có thông tin về tình hình chi tiêu, cơ cấu cấu khách du lịch quốc tế và trong nước, tháng 11 năm 2003 và tháng 7 năm 2005, Tổng cục Thống kê đã tiến hành hai cuộc điều tra về chi tiêu của khách du lịch với cỡ mẫu điều tra năm 2003 là 30.500 khách, trong đó có 7.000 khách quốc tế và 23.500 khách trong nước và cơ mẫu điều tra năm 2005 là 34.000 khách, trong đó có 8.500 khách quốc tế, 25.500 khách trong nước.

Một số đặc điểm về cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam qua kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê

Cả hai cuộc điều tra năm 2003 và 2005 đều được tiến hành theo phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên từ dòng khách du lịch quốc tế và trong nước đến nghỉ ở các cơ sở lưu trú du lịch trong thời gian liên tục khoảng 20 ngày nửa cuối tháng 11/2003 và tháng 7 năm 2005. Các cơ sở lưu trú được lựa chọn để tiến hành điều tra đối với khách theo phương pháp chọn mẫu “cân bằng rải đều” bảo đảm đại diện được cho tất cả các loại cơ sở lưu trú du lịch có tiện nghi khác nhau, từ cơ sở lưu trú sang trọng đắt tiền nhất cho đến các cơ sở bình dân nhất ở 26 tỉnh, thành phố trọng điểm du lịch trong cả nước. Kết quả điều tra đã rút ra một số đặc điểm quan trọng về cơ cấu du khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2005 và xu hướng biến động cơ cấu này sau gần hai năm, từ năm 2003 đến năm 2005.
Trước hết về cơ cấu theo hình thức tổ chức đi du lịch, kết quả điều tra năm 2005 cho thấy, trong tổng số du khách quốc tế đến Việt Nam được điều tra có 42,5% du khách đi theo tour do các cơ sở kinh doanh du lịch lữ hành tổ chức và 57,5% du khách tự sắp xếp đi. Tỷ lệ tương ứng trong cuộc điều tra 2003 là 40,9% và 59,1%. Như vậy, tỷ lệ khách du lịch đi theo tour năm 2005 đã tăng hơn năm 2003 là 1,6%. 

Nói chung hình thức đi du lịch theo tour phù hợp cho những khách đi với mục đích thuần tuý là thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí. Còn du khách tự sắp xếp đi là hình thức du lịch mang tính chủ động, linh hoạt, có thể thoả mãn được nhiều mục đích riêng kết hợp trong chuyến đi của khách, đồng thời cũng có thể tiết kiệm hơn về một số khoản chi phí. Do tính chất ưu việt của nó, nên hình thức du lịch tự sắp xếp đi thường có số lượng người chọn nhiều hơn so với hình thức đi theo tour do cơ sở du lịch lữ hành tổ chức. Do vậy, số liệu về cơ cấu du khách chia theo hình thức tổ chức đi thu được từ kết quả điều tra trong cả hai lần (năm 2003 và 2005) như đã chỉ ra ở trên là khá phù hợp với thực tế khách quan này. 

Cơ cấu theo số lần đến Việt Nam của du khách quốc tế, kết quả điều tra cho thấy, số khách đến Việt Nam lần đầu tiên là đông nhất, chiếm đến 65,3% tổng số khách, tuy nhiên tỷ trọng này đã giảm 6,7% so với năm 2003; có 20,9% số khách đến lần thứ hai, tăng 6,4% và số khách đến từ lần thứ ba trở lên 13,8%, tăng 0,3%. Như vây kết quả điều tra năm 2005 đã cho thấy số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam từ lần thứ hai, thứ ba trở lên đã tăng đáng kể sau 2 năm kể từ năm 2003 đến năm nay, điều đó chứng tỏ hoạt động du lịch Việt Nam đã và đang ngày càng hấp dẫn và thu hút mạnh mẽ hơn đối với du khách quốc tế. Kết quả điều tra chọn mẫu còn cho biết, trong tổng số khách quốc tế đến Việt Nam từ lần thứ ba trở lên chiếm tỷ trọng lớn là những du khách ở các nước và vùng lãnh thổ trong châu lục và khu vực gần với nước ta là chủ yếu, như khách đến từ Cămpuchia, Đặc khu hành chính Hồng Kông (TQ), Đài Loan, Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia, Singapo, Trung Quốc...Đây cũng là điều dễ hiểu, bởi vì chi phí và thời gian để thực hiện một chuyến du lịch đến Việt Nam đối với những nước này thường tốn kém ít hơn rất nhiều so với du khách ở các nước thuộc các khu vực và châu lục xa xôi khác. 

Cơ cấu số khách theo thị trường du lịch, kết quả điều tra cũng chỉ ra rằng, trong tổng số khách quốc tế đến Việt Nam được điều tra thì khách đến từ Châu Á chiếm đông nhất trong tổng số du khách quốc tế đến Việt Nam bằng 44,7% và năm 2003 tỷ lệ này là 43,7%; khách đến từ Châu Âu chiếm 32,6% và 27%; khách đến từ Châu Mỹ chiếm 13,8% và 17,9%; khách đến từ Châu Đại Dương chiếm 8,2% và 8,5%... Qua sự biến động tăng giảm về tỷ trọng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã nói lên rằng, tốc độ số du khách đến từ các nước Châu Á và Châu Âu đang tăng lên mạnh hơn so với du khách đến từ Châu Mỹ và Châu Đại Dương.

Cơ cấu du khách quốc tế phân theo các loại cơ sở lưu trú, kết quả điều tra cho thấy có khoảng 10% và năm 2003 là 16,6% khách nghỉ ở các cơ sở lưu trú cao cấp nhất - khách sạn 5 sao; 15,5% và 10,4% nghỉ ở khách sạn 4 sao. Như vậy là đã có một sự hoán vị cho nhau về số lượng khách nghỉ ở khách sạn 5 sao và 4 sao sau hai lần điều tra năm 2003 và 2005. Điều này có nghĩa là, trong khi tỷ trọng số khách đến nghỉ ở khách sạn 4 sao tăng từ 10,4% năm 2003 lên 15,5% năm 2005, thì ngược lại tỷ lệ số khách đến nghỉ ở khách sạn 5 sao lại giảm từ 16,6% xuống chỉ còn 10%; 23,5% và 23,8% số khách nghỉ ở khách sạn 3 sao; 15,7% và 20,1% nghỉ ở khách sạn 2 sao; 12,8% và 13,1% nghỉ ở khách sạn 1 sao. Như vậy tỷ lệ du khách quốc tế nghỉ ở các khách sạn 3 sao là loại khách sạn trung bình chiếm tỷ trọng lớn nhất với 23,5% tổng số du khách quốc tế đến Việt Nam. 

Cơ cấu khách du lịch quốc tế theo giới tính và độ tuổi, kết quả điều chỉ ra rằng, trong tổng số du khách được điều tra có 5.232 người là nam giới, chiếm 64,5%, năm 2003 tỷ lệ này là 69,1% và 2.963 du khách là phụ nữ, chiếm 35,5%, năm 2003 là 30,9%. Điều đó có nghĩa là số lượng du khách nam giới đi du lịch đông gần gấp rưỡi so với số du khách là phụ nữ. Tuy nhiên, so với năm 2003 tỷ lệ du khách quốc tế là phụ nữ đến Việt nam cũng đã tăng lên đáng kể. Về độ tuổi, số khách có độ tuổi từ 25 - 34 tuổi chiếm tỷ trọng lớn nhất, với số lượng 2.611 người, chiếm 31,9%, năm 2003 độ tuổi này chỉ chiếm 26%; độ tuổi từ 35 - 44 tuổi có 1.849 người, chiếm 22,6%, năm 2003 là 27,9%; tiếp đến là độ tuổi 45 - 54 tuổi chiếm 19,6%, năm 2003 là 20,7%; độ tuổi 55 - 64 tuổi chiếm 10,2%, năm 2003 là 12,9%. Như vậy có thể thấy cơ cấu theo độ tuổi của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm nay đã trẻ hoá hơn so với năm 2003. 

Theo mục đích của chuyến đi, thì số người thuần tuý đi du lịch, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí là đông nhất, chiếm 77,3% và tỷ lệ này năm 2003 là 78,2%; số khách đi với mục đích thương mại kết hợp du lịch chiếm 6,9% và 8,5%; kết hợp trong mục đích thăm bạn bè, người thân chiếm 7,3% và 4,2%; kết hợp du lịch với tham gia hội nghi, hội thảo, học tập ngắn ngày chiếm 3,2% và 4,5%; kết hợp du lịch với hoạt động báo chí chiếm 1,7% và 0,9%; kết hợp du lịch với các mục đích khác chiếm 3,8% và 3,7%. Như vậy, về cơ cấu khách du lịch theo mục đích của chuyến đi trong hai lần đièu tra không có sự biến động lớn, chỉ trừ tỷ trọng du khách đi thăm thân đã tăng đáng kể, từ 4,2% trong cuộc điều tra 2003 lên 7,3% trong cuộc điều tra 2005. 
<
Đặc điểm cơ cấu theo nghề nghiệp của khách, kết quả điều tra cho thấy, khách du lịch thuộc các tầng lớp thương gia chiếm đông hơn cả, với tỷ lệ 21,7%, năm 2003 là 20,2% tổng số khách; khách là các kiến trúc sư, kỹ sư, bác sỹ chiếm 15,2 năm 2003 là 12%; khách là những người đã nghỉ hưu chiếm 8,1%, năm 2003 là 10%; là giáo viên, giảng viên chiếm 10,0%, năm 2003 là 6,2%; là học sinh, sinh viên chiếm 9,1%; là quan chức Chính phủ chiếm 4,8%; là nhân viên tổ chức quốc tế chiếm 2,4% và các thành phần khác chiếm 24,5%. 

Độ dài thời gian bình quân lưu lại ở Việt Nam một lượt khách du lịch quốc tế là 13,8 ngày, năm 2003 là 10,6 ngày, trong đó khách đi theo tour (lữ hành) 9,7 ngày, năm 2003 là 8,5 ngày và khách du lịch tự sắp xếp đi là 16,8 ngày, năm 2003 là 12,1 ngày. Như vậy là thời gian lưu lại Việt Nam của du khách quốc tế năm 2005 đã tăng hơn 3 ngày so với năm 2003. Điều này chứng tỏ Việt Nam đã và đang trở thành điểm đến có nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn và níu chân du khách ở lại Việt Nam ngày càng lâu hơn.

Có thể thấy, các tour du lịch quốc tế thường có thời hạn nhất định nhằm phù hợp và đáp ứng nhu cầu của số đông khách. Thông thường các tour du lịch quốc tế đến Việt Nam là từ 3-7 ngày đối với du khách ở các quốc gia lân cận nước ta như khách đến từ các nước khu vực Châu Á và thời gian từ 10 - 15 ngày đối với du khách của các quốc gia xa hơn về mặt địa lý như Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Đại Dương. Còn các đối tượng du khách tự sắp xếp đi thường ít bị giới hạn về thời gian hơn. Trong số này có cả những du khách đi trong thời gian ngắn vài ba ngày cho đến những du khách đi vài ba tuần, vài ba tháng hoặc lâu hơn (tất nhiên chỉ dưới 12 tháng, nếu từ 1 năm trở lên sẽ không được coi là khách du lịch). Do đó, thời gian bình quân của một lượt khách du lịch đi theo tour thường ngắn hơn so với thời gian bình quân của một lượt khách tự sắp xếp đi.
TS. Lý Minh Khải
(Sưu tầm)
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
 
Copyright © 2014 Tạp chí Mẹo vặt | tapchimeovat@gmail.com | Chuyện lạ | Món ngon | Địa lý Việt Nam | Game vui
Làm đẹp | Du lịch | Nấu ăn | Giới tính | Công nghệ | Sitemap