Tất tần tật cần biết về bệnh Ung thư đại trực tràng

Tất tần tật cần biết về bệnh Ung thư đại trực tràng

Đa số các dấu hiệu sớm của bệnh ung thư đại trực tràng đều không được chú ý nên rất nhiều trường hợp chẩn đoán bệnh ở giai đoạn muộn, không thể cứu chữa.

Ung thư đại trực tràng là bệnh lý có tỷ lệ tử vong đứng thứ hai (sau ung thư phổi) trong các loại ung thư tại Mỹ và đứng thứ ba về mặt tần suất xuất hiện ở cả hai giới nam và nữ. Mỗi năm trên toàn thế giới có gần một triệu ca mới mắc bệnh, chiếm từ 9-10% trong các loại ung thư. Tỷ lệ mắc bệnh này cao nhất tại Châu Âu, Mỹ, Úc và New Zealand; thấp nhất được ghi nhận tại Ấn Độ, Nam Mỹ và Các tiểu vương quốc Arap. Người dân nông thôn có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn dân thành thị.

1, UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG LÀ GÌ?


Ung thư đại trực tràng là ung thư phát khởi nguyên thủy từ ruột già, là phần cuối cùng của ống tiêu hóa. Sau khi thức ăn được nhai, nuốt qua thực quản và dạ dày, thức ăn được tiêu hóa rồi đi xuống ruột non. Ruột non tiếp tục tiến trình tiêu hóa thức ăn rồi hấp thu các chất bổ dưỡng. Ruột non tiếp nối với ruột già, còn gọi là đại tràng. 

Ung thư trực tràng
Đoạn đầu của đại tràng có chức năng hấp thu nước cùng chất bổ dưỡng và là nơi chứa chất bã. Chất bã thành phân đi xuống trực tràng là đoạn cuối của ống tiêu hóa. Đại tràng chia thành 4 đoạn. Ung thư có thể khởi phát từ bất cứ đoạn nào trên đại tràng hoặc trực tràng. Ung thư xuất phát từ lớp trong cùng của thành ruột (niêm mạc đại trực tràng) sau đó xâm lấn ra ngoài các lớp khác của thành ruột.

Ung thư ở mỗi vị trí trên khung đại trực tràng sẽ biểu hiện các triệu chứng khác nhau, thông thường nhất là có máu trong phân. Trong đa số các trường hợp ung thư đại trực tràng phát triển âm thầm trong nhiều năm. Ngày nay người ta còn biết ung thư khởi đầu bằng một tổn thương gọi là polip, 5 đến 10 hay 25 năm sau, polip trở thành ung thư. Cắt bỏ polip là cách phòng ngừa ung thư hữu hiệu nhất. Trên 95% các ung thư đại trực tràng là loại ung thư tế bào tuyến. Loại ung thư này bắt nguồn từ tế bào của niêm mạc ruột già.


2, NGUYÊN NHÂN GÂY RA UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG


Hiện nay chúng ta chưa biết nguyên nhân chính xác gây ra ung thư đại trực tràng, tuy nhiên có những yếu tố chắc chắn làm bệnh nhân dễ mắc bệnh như:

+ Các polid đại trực tràng:
Các polip mọc trên thành bên trong của đại tràng hoặc trực tràng và thường gặp ở người trên 50 tuổi. Hầu hết các polip là lành tính (không phải ung thư), nhưng một số polip (u tuyến) có thể trở thành ung thư.

+ Viêm loét đại tràng hoặc bệnh CROHN

Một người đã bị một bệnh lý gây ra viêm đại tràng (như viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn) trong nhiều năm sẽ có nguy cơ ung thư tăng cao.

+Tiểu sử cá nhân bị ung thư

Một người đã bị ung thư đại trực tràng có thể phát triển ung thư đại trực tràng lần thứ hai. Ngoài ra, phụ nữ có tiền sử ung thư buồng trứng, tử cung (nội mạc tử cung), hoặc ung thư vú có nguy cơ cao hơn một chút bị phát triển ung thư đại trực tràng.

+ Tiểu sử gia đình bị ung thư đại trực tràng

Nếu bạn có một tiền sử gia đình dương tính của bệnh ung thư đại trực tràng, bạn có nhiều khả năng hơn những người khác bị phát triển căn bệnh này, đặc biệt là nếu người thân của bạn đã bị ung thư khi còn trẻ.

+ Các yếu tố lối sống

Những người hút thuốc lá, hoặc dùng một chế độ ăn nhiều thịt đỏ hoặc bị chế biến và ít chất xơ có nguy cơ tăng cao của ung thư đại trực tràng.

+ Tuổi trên 50

Ung thư đại trực tràng có nhiều khả năng xảy ra đối với những người lớn tuổi. Hơn 90 phần trăm số người mắc bệnh này được chẩn đoán sau tuổi 50 và lớn hơn.

3, CÁC TRIỆU CHỨNG


Các triệu chứng của bệnh ung thư đại trực tràng bao gồm:

• Thay đổi trong các hoạt động ruột (tiêu chảy hoặc táo bón)
• Cảm thấy rằng ruột của bạn không trống rỗng hoàn toàn
• Thấy máu (hoặc màu đỏ tươi hoặc rất sẫm) trong phân của bạn
• Thấy phân của bạn là hẹp hơn so với bình thường
• Thường xuyên thấy đau hoặc co thắt ruột do đầy hơi, hoặc cảm giác đầy bụng hoặc chướng bụng
• Giảm cân không rõ lý do
• Cảm thấy rất mệt mỏi mọi lúc
• Thấy buồn nôn hoặc nôn

Thông thường, các triệu chứng này không phải do ung thư. Các vấn đề sức khỏe khác có thể gây ra một số các triệu chứng này. Ngoài ra, điều quan trọng cần lưu ý là ung thư giai đoạn đầu thường không gây đau. Vì vậy, bất cứ ai có những triệu chứng này nên đi khám bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt.

4, CÁC GIAI ĐOẠN CỦA UNG THƯ TRỰC TRÀNG


• Giai đoạn 0: Ung thư chỉ được tìm thấy ở lớp niêm mạc trong cùng của đại tràng hoặc trực
tràng. Ung thư biểu mô tại chỗ là một tên khác cho ung thư đại trực tràng Giai đoạn 0.

• Giai đoạn I: Khối u đã phát triển vào thành trong của đại tràng hoặc trực tràng.
Khối u chưa phát triển vượt qua thành.

• Giai đoạn II: Khối u phát triển sâu hơn vào trong hoặc xuyên qua thành đại tràng hoặc trực tràng. Nó có thể đã xâm lấn các mô lân cận, nhưng các tế bào ung thư chưa lây lan đến các hạch bạch
huyết.

• Giai đoạn III: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết gần đó, nhưng chưa đến các bộ phận khác của cơ thể.

• Giai đoạn IV: Ung thư đã lan ra các bộ phận khác của cơ thể, chẳng hạn như gan hoặc phổi.

• Tái phát: Đây là ung thư đã được điều trị và tái phát trở lại sau một khoảng thời gian khi ung thư không thể được phát hiện. Bệnh có thể tái phát trở lại trong đại tràng hay trực tràng, hoặc trong một bộ phận khác của cơ thể.

5, CHUẨN ĐOÁN


Bao gồm các bước:
+ Thăm khám tổng quát lâm sàng kết hợp với việc thăm trực trảng
+ Các xét nghiệm tổng quát: CTM, chức năng gan – thận, XQ phổi,..
+ Dấu ấn ung thư CEA
+ CT Scan hay MRI vùng bụng, chậu, hay phổi giúp phát hiện khối u ruột cùng với các sang thương di căn ở phổi, gan, khoang phúc mạc,…
+ Nội soi khung đại tràng: giúp quan sát trực tiếp sang thương trong lòng ĐTT
+ Siêu âm ngã trực tràng: có vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ xâm lấn của khối u trước phẫu thuật, đặc biệt trong ung thự trực tràng.
+ PET Scan: hữu ích trong việc phân biệt sang thương lành tính hay ác tính và phát hiện những vị trí di căn khác.
+ Sinh thiết – giải phẩu bệnh: giúp chẩn đoán xác định bệnh, được thực hiện thông qua nội soi khung đại tràng hoặc sinh thiết kim dưới hướng dẩn của CT Scan.

<

6, CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA


+ Xét nghiệm máu trong phân

Đôi khi các ung thư hay các u thịt (polip) gây chảy máu, và FOBT có thể phát hiện một lượng nhỏ máu trong phân. Nếu xét nghiệm này cho thấy có máu, khi đó các xét nghiệm khác là cần thiết để tìm nguồn gốc của máu. Các tình trạng lành tính (như bệnh trĩ), cũng có thể gây ra máu trong xét nghiệm này.

+ Soi đại trực tràng SIGMA

Bác sĩ kiểm tra trực tràng và phần dưới của đại tràng với một ống sáng (ống soi đại trực tràng sigma.
Sự phát triển tiền ung thư và ung thư trực tràng và phần dưới của đại tràng có thể được tìm thấy và hoặc được lấy ra hoặc được sinh thiết.

+ Nội sôi đại tràng

Bác sĩ kiểm tra trực tràng và toàn bộ đại tràng bằng một ống sáng và dài (ống nội soi đại tràng). Sự phát triển tiền ung thư và ung thư trong toàn bộ đại tràng có thể được tìm thấy và hoặc được lấy ra hoặc được sinh thiết, bao gồm cả sự phát triển ở phần trên của đại tràng, nơi chúng sẽ bị bỏ qua bởi soi đại trực tràng sigma.

+ Sự bơm thụt BARI tương phản kép

Thủ pháp này liên quan đến việc làm đầy đại tràng và trực tràng với một chất lỏng màu trắng (Bari) để nâng cao các hình ảnh X-quang. Các bất thường (chẳng hạn như các bưới thịt – polip) có thể được nhìn thấy rõ ràng.

+ Nội soi đại tràng ảnh thực

Trong xét nghiệm này, thiết bị X-quang đặc biệt được sử dụng để đưa ra các hình ảnh của đại tràng và trực tràng. Một máy tính tập hợp những hình ảnh này thành các hình ảnh chi tiết mà nó có thể hiển thị các bướu thịt – polip và các bất thường khác.

7, CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG


+ Phẫu thuật:

Là lựa chọn đầu tiên trong điều trị UT ĐTT. Phẫu thuật cắt đoạn đại/trực tràng mang khối u – nối tận tận hay phẫu thuật Miles đối với các trường hợp ung thư trực tràng thấp. Hiện nay, phãu thuật nội soi ngày càng phát triển và có hiệu quả tương đương với việc mổ hở kinh điển song lại có hiệu quả vượt trội về mặt thẩm mỹ, giảm chi phí nằm viện và ít sử dụng thuốc giảm đau.

+ Hóa trị:

Giúp cải thiện tiên lượng sống còn của bệnh nhân và làm giảm nguy cơ tái phát bệnh sau mổ. Hóa chất được sử dụng thông dụng nhất là 5FU, capecitabine, irinotecan và oxaliplatin. Phác đồ FOLFOX hay FOLFIRI ± Bevacizumab được xem như là phác đồ chuẩn đầu tiên được áp dụng bởi hầu hết các BS ung thư.

+ Xạ trị:

Có hiệu quả trong ung thư trực tràng: giúp điều trị bệnh, giảm giai đoạn bệnh, giảm kích thước khối u, hoặc xạ trị chăm sóc giảm nhẹ.

+ Điều trị hỗ trợ:

Cho dù chúng ta sử dụng phương pháp nào đi chăng nữa thì vẫn còn có những mặt hạn chế, ví dụ như phương pháp hóa trị sẽ làm ảnh hưởng đến cơ thể, gây mệt mỏi, suy kiệt sức khỏe của người điều trị; hoặc phương pháp xạ trị là dùng tia X có bước sóng ngắn để tiêu diệt các tế bào ung thư nhưng lại không thể tiêu diệt hết tất cả các khối u, làm khối u vẫn có thể phát triển và di căn … Chính vì vậy, chúng tôi khuyên bạn nên sử dụng bổ sung các loại thuốc trị ung thư có uy tín trên thị trường như GRAVIOLA & CURCUMIN trong phác đồ điều trị, như vậy sẽ nâng cao hiệu quả điều trị bệnh lên gấp nhiều lần.

8, PHÒNG TRÁNH UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG


Bạn có thể giảm nguy cơ ung thư nhờ sàng lọc thường xuyên bằng soi đại tràng hoặc kết hợp thụt bari và soi ống mềm đại tràng xích-ma. Thay đổi chế độ ăn uống và thay đổi lối sống cũng là điều vô cùng quan trọng:

+ Chế độ ăn nhiều hoa quả, rau và ngũ cốc nguyên chất:

Các thực phẩm này có nhiều chất xơ, có thể làm giảm 40% nguy cơ polyp đại tràng. Nên ăn hoa quả có mầu xanh sẫm, vàng đậm hoặc mầu da cam và rau như củ cải Thụy Sĩ, rau bina, dưa đỏ, xoài, quả đấu, khoai lang, rau họ cải bắp, bao gồm cải bông xanh, cải brussel và súp lơ. 

Ăn nhiều các loại hoa quả và rau có mầu đỏ khác như cà chua, dâu tây và ớt đỏ, là hóa chất chống ung thư rất mạnh. Ngoài ra, thử ăn cây họ đậu và thực phẩm từ đậu nành, như đậu phụ hoặc sữa đậu nành.

+ Hạn chế mỡ, nhất là chất béo no:

Thận trọng hạn chế chất béo no có nguồn gốc động vật như thịt nạc. Các thực phẩm khác chứa chất béo no bao gồm sữa nguyên chất, pho mát, kem, dầu dừa và dầu cọ. Hạn chế mỡ toàn phần < 35% lượng calo hàng ngày, 8-10% là chất béo no.

+ Dùng lượng canxi khuyến nghị:

Những người dùng 700-800 mg calci/ngày có nguy cơ ung thư đại tràng thấp hơn 40-50% so với người dùng £500 mg canxi/ngày. Nguồn thực phẩm có canxi tốt bao gồm váng sữa hoặc sữa có hàm lượng chất béo thấp và các sản phẩm bơ sữa khác, cải xanh, cải canh và cá hồi. Vitamin D, trợ giúp cho hấp thu canxi, cũng làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng. Vitamin D có trong những thực phẩm như các sản phẩm sữa bổ sung vitamin D, gan, lòng đỏ trứng và cá. Ánh nắng mặt trời cũng làm biến đổi hóa chất trên da bạn thành dạng vitamin hữu ích. Nếu không uống sữa hoặc tránh ánh nắng mặt trời, bạn có thể cần bổ sung canxi. Ngoài việc giúp bảo vệ chống ung thư đại trực tràng, bổ sung vitamin D và canxi vào chế độ ăn có thể làm chậm quá trình mất xương (loãng xương) và làm giảm nguy cơ gẫy xương.

+ Dùng lượng axít folic thích hợp:

Bổ sung lượng vitamin B folat hoặc axít folic thích hợp giúp bạn giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng. Thậm chí những người có tiền sử gia đình bị bệnh có thể giảm nguy cơ bằng cách hạn chế uống rượu và dùng 400 mg axít folic/ngày. Folat có trong lá rau xanh thẫm như rau bina, đậu, đậu tây và đậu xanh, một số quả và hạt, ngũ cốc đã bổ sung. Phần lớn các multivitamin đều chứa axít folic.

+ Hạn chế uống rượu:

Dùng rượu ở mức từ vừa tới nặng (uống > 1 cốc rượu/ngày đối với nữ và 2 cốc rượu/ngày đối với nam) làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng. Hạn chế uống rượu có thể giảm nguy cơ, ngay cả khi tiền sử gia đình ung thư đại tràng.

+ Bỏ thuốc lá:

Hút thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ bị cả ung thư đại tràng và ung thư phổi.

+ Luôn tập luyện và duy trì cân nặng khỏe mạnh:

Chỉ cần kiểm soát cân nặng bạn cũng có thể giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng. Tập luyện thường xuyên có thể giảm một nửa nguy cơ ung thư đại tràng.

+ Nếu bạn là nữ, hãy báo cho bác sĩ về việc dùng liệu pháp thay thế hormon (HRT) bởi HRT có thể giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng.

+ Dùng phương pháp thuốc uống để ngăn ngừa ung thư đại thực tràng:

Thuốc GRAVIOLA & CURCUMIN không những có thể sử dụng để điều trị ung thư, mà nó còn có thể được dùng để phòng ngừa các bệnh ung thư, vì hoạt tính kháng ung thư có trong hai loại thuốc này. Thuốc có thể sử dụng cho những ai muốn phòng tránh ung thư một cách hữu hiệu và an toàn nhất.
(Sưu tầm)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
 
Copyright © 2014 Tạp chí Mẹo vặt | tapchimeovat@gmail.com | Chuyện lạ
Làm đẹp | Du lịch | Nấu ăn | Giới tính | Công nghệ | Sitemap